Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2023 thành phố Bảo Lộc

21.06.2024 08:18497 đã xem

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM QUÝ I NĂM 2023

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

(Trích từ Báo cáo kinh tế - xã hội quý I năm 2023

của Chi cục Thống kê khu vực Bảo Lộc – Bảo Lâm)

 

 

1. Đánh giá chung

Trong quý I/2023, thời tiết đang là mùa khô, tuy nhiên trong tháng 2 trên địa bàn thành phố Bảo Lộc vẫn có những cơn mưa đầu nùa, do đó cây trồng vẫn sinh trưởng và phát triển tốt, nhất là diện tích cây lâu năm như cà phê, chè, dâu tằm và cây ăn quả. Sản xuất công nghiệp, dịch vụ tăng trưởng trở lại, giá xăng dầu tiếp tục điều chỉnh nhiều lần song giá cả hàng hóa và dịch vụ cho sản xuất và tiêu dùng trong quý vẫn ổn định, ít biến động.

2. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh một số ngành, lĩnh vực chủ yếu

2.1. Tài chính, tín dụng

Tổng thu ngân sách trên địa bàn dự ước quý I/2023 đạt 1.040,3 tỷ đồng, đạt 32,5% so dự toán và tăng 27,6% so cùng kỳ; trong đó, các khoản thu cân đối ngân sách nhà nước đạt 1.015,3 tỷ đồng, đạt 31,7% so dự toán và tăng 25,2% so cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu là các khoản thu của doanh nghiệp nhà nước TW, thu thuế ngoài quốc doanh tăng cao nhờ thu từ nhà máy bia Sài Gòn hoạt động ổn định. Các khoản thu thuế, phí đạt 920,2 tỷ đồng, đạt 35,8% dự toán và tăng 25,9% so cùng kỳ; thu từ nhà đất đạt 92,8 tỷ đồng, đạt 15% dự toán và tăng 21,4% so cùng kỳ. Tổng thu ngân sách địa phương ước quý I năm 2023 đạt 880,6 tỷ đồng, đạt 75,9% so dự toán và tăng 5,4% so cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách địa phương cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Dự ước tổng chi ngân sách địa phương quý I/2023 đạt 227,4 tỷ đồng, đạt 19,6% so dự toán và tăng 16,1% so cùng kỳ; trong đó, chi cân đối qua ngân sách đạt 200,4 tỷ đồng, đạt 22% so dự toán và tăng 59,7% tăng 5,4% so cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 125,1 tỷ đồng, bằng 19,6% so dự toán và tăng 3,8% so cùng kỳ.

Doanh số cho vay của các ngân hàng, quỹ tín dụng quý I ước đạt 13.076 tỷ đồng, tăng 19,8% so với cùng kỳ. Doanh số thu nợ quý I/2023 ước đạt 10.260 tỷ đồng, tăng 2,6% so với cùng kỳ. Dư nợ cho vay của các ngân hàng, quỹ tín dụng đến tháng 3/2023 đạt 32.267 tỷ đồng, tăng 13,6 % so với cùng kỳ.

2.2. Đầu tư xây dựng cơ bản

Nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện quý I/2023 đạt 47.830 triệu đồng, đạt 10,6% so kế hoạch vốn năm 2023 và giảm 41,3% so cùng kỳ, trong quý I chủ yếu thực hiện các công trình chuyển tiếp năm 2022 là các công trình giao thông như đường Trần Khánh Dư, nâng cấp cải tạo đường Nguyễn Bỉnh Khiêm... Nguồn vốn ngân sách do tỉnh quản lý đạt 16.200 triệu đồng, đạt 8,2% kế hoạch vốn, trong đó  chủ yếu là nguồn vốn cân đối ngân sách tập trung của tỉnh… Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước thực hiện đạt 31.630 triệu đồng, đạt 12,5% kế hoạch và tăng 40,3% so cùng kỳ, chủ yếu đầu tư sửa chữa, nâng cấp một số tuyến đường giao thông.

2.3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

2.3.1. Sản xuất nông nghiệp

- Cây hàng năm: Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân đến ngày 10 tháng 3 ước đạt 181,4 ha, tăng 2,4% so với cùng kỳ; trong đó, diện tích rau các loại đạt 70 ha, tăng 0,4%; đậu các loại 6,2 ha, tăng 1,6% so với cùng kỳ. Diện tích rau thu hoạch ước đạt 37,2 ha, tăng 0,5%; diện tích đậu thu hoạch ước đạt 4,8 ha, tăng 2,1% so với cùng kỳ.

- Cây lâu năm: Các hộ dân đã thu hoạch xong cây cà phê, đang tập trung chăm sóc cho cây trồng như tỉa cành, làm cỏ, bón phân... nhất là cây cà phê, dâu tằm.

Cây chè: Diện tích chè hiện nay trên địa bàn ước đạt 2.490 ha, giảm 0,6% so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch 3 tháng đầu năm ước đạt 6.180 tấn, giảm 0,3% so với cùng kỳ.

Cây dâu tằm: Cây dâu tằm sinh trưởng phát tiển tốt, cho năng suất cao, nông dân nuôi tằm đã có kỹ thuật cao trong quá trình canh tác cây dâu cũng như nuôi tằm. Giá kén hiện nay đang ở mức cao dao động từ 200.000 – 210.000đ/kg, tương đương giá so cùng kỳ.

Tình hình sâu bệnh do côn trùng gây ra cho cây công nghiệp dài ngày xuất hiện cục bộ, chủ các bệnh hại cây trồng chủ yếu vẫn là bọ xít muỗi, rầy xanh, bọ hung nâu, mọt đục cành trên cây cà phê gây ra…

- Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố Bảo Lộc duy trì, dịch bệnh không xảy ra. Tổng đàn trâu ước đạt 27 con, giảm 54,1% so với cùng kỳ; số lượng trâu trên địa bàn ít và thường không ổn định vì nguồn thức ăn cỏ tự nhiên ngày càng khan hiếm, chăn nuôi khó khăn.

Tổng đàn bò ước đạt 2.216 con, giảm 20,4% so với cùng kỳ, trong đó đàn bò sữa hiện có 1.166 con, giảm 33,2% so với cùng kỳ.

Tổng đàn heo trên địa bàn đạt 32.668 con, tăng 8% so với cùng kỳ, tăng chủ yếu ở công ty CP. Hiện nay chăn nuôi nhỏ lẻ có xu hướng giảm dần do người chăn nuôi thua lỗ nên không đầu tư nuôi trở lại. Ngoài ra, dịch tả lợn Châu phi có thể bùng phát trở lại bất cứ lúc nào, nhiều hộ nông dân không khỏi lo lắng, trong khi đó giá cám, giá lợn con giống tăng cao…

Tổng đàn gia cầm trên địa bàn ước đạt là 2.244 ngàn con, giảm 12% so với cùng kỳ, đàn gà ước đạt 410,67 ngàn con, tăng 1,4%.

Tình hình dịch bệnh: Thành phố đã triển khai kế hoạch vệ sinh tiêu độc khử trùng đợt 1/2023 trước, trong và sau tết Nguyên đán 2023. Các đơn vị tổ chức và thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh trên đàn vật nuôi. Đến thời điểm hiện tại rên địa bàn thành phố chưa xảy ra dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nào trên gia súc và gia cầm.

2.3.2. Sản xuất Lâm nghiệp

Công tác quản lý và bảo vệ rừng tiếp tục được quan tâm, đặc biệt là công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô 2022-2023. Trong quý I, thành phố tiếp tục duy trì công tác tuần tra chống chặt phá rừng, truy quét lâm sản trên địa bàn, tại các tiểu khu, kịp thời phát hiện ngăn chặn các vi phạm nhỏ lẻ, không phát sinh các điểm nóng, các vụ việc nổi cộm về vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng, vì vậy đã hạn chế các vụ vi phạm lâm luật; trong quý I không xảy ra vụ phá rừng và khai thác rừng trái phép nào.

2.3.3. Thủy sản

Diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 133,5 ha, giảm 0,7% so với cùng kỳ. Trên địa bàn thành phố có 3 hộ nuôi trồng thủy sản lồng, bè ở trên hồ với số lượng 50 lồng, thể tích 3.500 m3, các loại cá nuôi chủ yếu là cá rô phi, cá chép, cá diêu hồng và cá trắm. Sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 197,5 tấn, tăng 6,8% so với cùng kỳ, tăng chủ yếu ở sản lượng cá nuôi lồng, bè.

2.4. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp trên địa bàn trong quý I năm 2023 tăng so cùng kỳ, do một số ngành sản xuất tăng như ngành dệt, bia lon, sản phẩm may…

Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn theo giá so sánh năm 2010 ước quý I/2023 đạt 1.094.091 triệu đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ; trong đó, ngành chế biến chế tạo đạt 927.899 triệu đồng, tăng 9,2%, sản xuất và phân phối điện tăng 5,47% so với cùng kỳ. Các ngành sản xuất chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như: Sản xuất chế biến thực phẩm đạt 276.405 triệu đồng, giảm 3% so cùng kỳ; ngành sản xuất dệt đạt 248.644 triệu đồng, tăng 3,9%, sản xuất đồ uống tăng 45,3%, ngành sản xuất trang phục đạt 138.020 triệu đồng, tăng 12,9%, ngành sản xuất sản phẩm từ kim lọai đúc sẵn ước đạt 72.677 triệu đồng, giảm 7,1% so với cùng kỳ...

Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá hiện hành ước quý I/2023 đạt 1.773.203 triệu đồng, tăng 14% so với cùng kỳ; trong đó ngành ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 1.479.876 triệu đồng, tăng 17,4%.

Về sản phẩm trong quý I/2023: sản xuất chè ước đạt 5.064 tấn, giảm 17,8%, giảm chủ yếu sản phẩm chè sơ chế, trong đó chè xanh và ướp hương vẫn duy trì bằng năm 2022; sản phẩm sợi tơ tằm ước đạt 164 tấn, tăng 17%; sản phẩm lụa ước đạt 834 ngàn m2, tăng 8,1%; bia đóng lon ước đạt 23,9 triệu lít, tăng 10,9%; sản phẩm may sẵn tăng 52,8%; sản phẩm may gia công giảm 30,8% so với cùng kỳ.

2.5. Thương mại, dịch vụ

Trong quý I năm 2023, sức mua bán hàng hóa tăng, nhất là ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng cao trong những ngày trước, trong và sau tết Nguyên đán. Trong dịp Tết, các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh, các siêu thị đã tham gia tốt vào công tác bình ổn giá cả… hàng hóa dồi dào, chủng loại phong phú, đa dạng nên hiện tượng đầu cơ, găm hàng hóa không xảy ra, đáp ứng được yêu cầu bình ổn giá cả trên thị trường, đảm bảo hàng hóa đến tận tay người tiêu dùng. Ước tính quý I/2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn đạt 3.011,9 tỷ đồng, tăng 14,6% so cùng kỳ.

Kim ngạch xuất khẩu quý I/2023 trên địa bàn thành phố ước đạt 45 triệu USD, giảm 13,7% so với cùng kỳ, các sản phẩm xuất khẩu gồm cà phê, các sản phẩm may mặc, vải lụa tơ tằm, chè, các sản phẩm áo mưa, các sản phẩm rau củ quả chế biến, van dầu khí và các sản phẩm nông sản khác.

Tình hình hoạt động vận tải trên địa bàn cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân.

2.6. Các vấn đề xã hội

Văn hóa thể thao: Các hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao diễn ra sôi nổi rộng khắp trên địa bàn, nhất là các hoạt động, mừng Đảng, mừng Xuân; cơ bản đáp ứng nhu cầu văn hóa, văn nghệ của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn vào dịp mừng xuân mới. Công tác tuyên truyền về các sự kiện và những ngày lễ lớn của đất nước, của dân tộc, như chào đón năm mới 2023, đón xuân Quý mão, kỷ niệm 93 năm ngày thành lập Đảng 3/2/1930-3/2/2023, ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2… Các hoạt động vui xuân như không gian văn hóa “Phố ông Đồ”, chương trình “Tết Quân - Dân”, chương trình văn nghệ mừng Đảng, mừng Xuân đêm giao thừa, triển lãm hội báo xuân 2023, tổ chức hội xuân 2023...

Giáo dục: Trong quý I/2023, ngành giáo dục tiếp tục chỉ đạo thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua của ngành, tạo sự chuyển biến tích cực trong ý thức, thái độ và hành vi của cán bộ, giáo viên, học viên, đảm bảo công tác dạy và học theo kế hoạch. Kết quả sơ bộ học kỳ I năm học 2022-2023: Tỷ lệ huy động học sinh ra lớp đạt 97% kế hoạch; so với cùng kỳ năm học 2021-2022 học sinh ổn định so với cùng kỳ; trong khi giảm 19 nhóm lớp, tỷ lệ giảm 1,8% (tỷ lệ huy động trẻ ra lớp chưa đạt kế hoạch tập trung ở bậc mầm non, tỷ lệ ra lớp đạt 92% so với kế hoạch). Về chất lượng: Bậc tiểu học: tổng số học sinh được đánh giá 15.910/15910 học sinh được đánh giá, tỷ lệ duy trì sỹ số đạt 100%; Bậc trung học cơ sở: Học lực khá, giỏi: 65%, tăng 0,5 điểm phần trăm so với cùng kì năm trước; Hạnh kiểm khá, tốt: 99,16%, giảm 0,06% so với cùng kì năm trước. Có 439 học sinh tham gia thi học sinh giỏi cấp thành phố (bằng năm học 2021 – 2022); có 221 học sinh được công nhận học sinh giỏi cấp thành phố, tuyển chọn 135 em tham gia thị học sinh giỏi cấp tỉnh.

Y tế: Nhờ chủ động làm tốt công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, tăng cường giám sát và phòng dịch bệnh nên trong quý đã hạn chế tối đa dịch bệnh, nhất là các bệnh dịch Covid-19, cúm gia cầm, sốt xuất huyết… Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm đã tuyên truyền, kiểm tra nhằm chấp hành tốt quy định của nhà nước, trong dịp tết Nguyên đán các cơ quan chức năng của thành phố đã kiểm tra: 143 cơ sở (trong đó dịch vụ ăn uống: 10 cơ sở; sản xuất, chế biến: 27 cơ sở, thức ăn đường phố: 106 cơ sở), kết quả trong 3 tháng đầu năm không xảy ra ca ngộ độc thực phẩm và dịch bệnh nào.

Công tác khám chữa bệnh duy trì, đảm bảo vị trí trực nhằm đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn, nhất là trong dịp tết Nguyên đán.

Xã hội: Công tác quản lý và chăm sóc đối tượng chính sách, người có công với Cách mạng luôn được quan tâm, đến nay thành phố đang quản lý và chi trả trợ cấp cho 1.142 đối tượng người có công với Cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội là 4.206 đối tượng. Công tác chăm lo Tết cho các đối tương chính sách và người có công, đối tượng bảo trợ xã hội đã thực hiện tốt, mọi đối tượng đều đón Tết an lành. Thành phố đã tổ chức thăm hỏi các đối tượng chính sách trong dịp tết Quý mão với kinh phí 25,35 tỷ đồng, trong đó bằng nguồn ngân sách cấp trên 16,05 tỷ đồng.

Công tác giảm nghèo trên địa bàn tiếp tục được quan tâm tổ chức vận động các hộ đăng ký thoát nghèo, hỗ trợ các biện pháp để các hộ thoát nghèo bền vững như vay vốn để phát triển sản xuất…

An toàn xã hội: Trong quý I, tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tiếp tục được giữ vững và ổn định. Tăng cường công tác kiểm tra, tuần tra, phòng chống tội phạm, các tệ nạn xã hội đảm bảo ổn định xã hội, giảm thiểu tai nạn giao thông./.

 

 

Tin tức khác